Trở về
Do sự đa dạng trong đường tu của Đức Phật trước kia đã hành, mà người ta đã diễn đạt thuật ngữ Nirmāṇakāya, bằng những ngôn từ khác nhau trong việc học Phật. Diễn nghĩa Văn Thù Sư Lợi Chân Ngôn phần 7.
Saturday, Jun 11, 2011 1:11 am
Do sự đa dạng trong đường tu của Đức Phật trước kia đã hành, mà người ta đã diễn đạt thuật ngữ Nirmāṇakāya, bằng những ngôn từ khác nhau trong việc học Phật. Diễn nghĩa Văn Thù Sư Lợi Chân Ngôn phần 7.
Ứng thân Phật, phạn nggọi là nirmāṇakāya. Thuật ngữ nirmāṇakāya được ghép từ chữ निर्माण nirmāṇa và काय, kāya.
Bảng biến hóa thân từ của  nirmāṇakāya ở dạng nam tính :
Nam tính
Số ít
Số hai
Số nhiều
Chủ cách
nirmāṇakāyaḥ
nirmāṇakāyau
nirmāṇakāyāḥ
Hô cách
nirmāṇakāya
nirmāṇakāyau
nirmāṇakāyāḥ
Cách trực bổ
nirmāṇakāyam
nirmāṇakāyau
nirmāṇakāyān
Cách dụng cụ
nirmāṇakāyena
nirmāṇakāyābhyām
nirmāṇakāyaiḥ
Cách gián bổ
nirmāṇakāyāya
nirmāṇakāyābhyām
nirmāṇakāyebhyaḥ
Cách tách ly
nirmāṇakāyāt
nirmāṇakāyābhyām
nirmāṇakāyebhyaḥ
Cách sở hữu
nirmāṇakāyasya
nirmāṇakāyayoḥ
nirmāṇakāyānām
Cách vị trí
nirmāṇakāye
nirmāṇakāyayoḥ
nirmāṇakāyeṣu
 
निर्माण, nirmāṇa là từ được ghép từ chữ nirmā và thân kép-na. निर्माण, nirmāṇa có những nghĩa được biết như sau : Sự xây dựng, sự giải thích, sự vẽ hình, sự dựng hình, sự sáng tạo, sự sáng tạo, sáng tác tác phẩm, sự thiết lập, sự hình thành, sự tạo thành, sự lập nên, hệ thống tổ chức (xã hội), cơ cấu, sự cấu tạo, sự hợp thành, sự cấu thành, thành phần, bài sáng tác, tác phẩm, sự pha trộn, sự hỗn hợp, tư chất, bản chất, tính, tâm tính.
Bảng biến hóa thân từ của  nirmāṇa ở dạng trung tính :
Trung tính
Số ít
Số hai
Số nhiều
Chủ cách
nirmāṇam
nirmāṇe
nirmāṇāni
Hô cách
nirmāṇa
nirmāṇe
nirmāṇāni
Cách trực bổ
nirmāṇam
nirmāṇe
nirmāṇāni
Cách dụng cụ
nirmāṇena
nirmāṇābhyām
nirmāṇaiḥ
Cách gián bổ
nirmāṇāya
nirmāṇābhyām
nirmāṇebhyaḥ
Cách tách ly
nirmāṇāt
nirmāṇābhyām
nirmāṇebhyaḥ
Cách sở hữu
nirmāṇasya
nirmāṇayoḥ
nirmāṇānām
Cách vị trí
nirmāṇe
nirmāṇayoḥ
nirmāṇeṣu
 
निर्मा, nirmā là động từ thuộc nhóm 3, thân của nó được ghép từ chữ nis  và thân kép -mā_1.  निर्मा, nirmā có những nghĩa được biết như sau : Đo, đong, lường, đo được, cân nhắc, đắn đo, liệu chừng, xây dựng, kiến thiết, đóng, vẽ, dựng, đẽo thành hình, tạc thành hình, đào luyện, dạy dỗ, tập quen, làm ra, chế tạo, bịa, đặt bày, sáng tạo, tạo ra, gây ra, thiết lập, thành lập, lập, bổ nhiệm, sinh ra, sinh lợi, xuất trình, đưa ra, gây nguyên nhân, xác định, quyết định, khiến cho quyết định, gây dựng, tác thành, chứng minh, xác lập.
निस् , nis là biến cách hay tiền tố ngữ thường thấy như : nir, niś, niṣ, niḥ, và निस् , nis có những nghĩa được biết như sau : Ngoài tầm, ngoài tầm ở trên cao, bên ngoài của cái gì đó, biến mất, mất quyền tư hữu của cái gì đó, không có, phủ định, phủ nhận.
Động từ căn √ मा mā_1 là động từ thuộc nhóm 3. √ मा mā_1 có những nghĩa được biết như sau : Đo, đong, lường, đo được, cân nhắc, đắn đo, liệu chừng, vạch ranh giới, định ranh giới, ấn định phạm vi, đánh dấu, ghi, để dấu lại, để vết lại, làm nổi, biểu lộ, tỏ rõ, so sánh.
Do sự đa dạng trong đường tu củaĐức Phật trước kia đã hành, mà người ta đã diễn đạt thuật ngữ Nirmāṇakāya, bằng những ngôn từ khác nhau trong việc học Phật. Nirmāṇakāya trong Kinh Phật Việt Nam, thường thấy những danh từ như : Ứng thân Như lai, Ứng hóa thân, Ứng hoá pháp thân Ứng thân Phật thường được hiểu như : Hóa thân hay hiện thân của Đức Phật được tạo ra trong thời gian và không gian, đứng vào căn cơ của chúng sanh bằng nhân cách và tùy thuộc vào căn cơ hn cảnh thích hợp với của mỗi người mà giáo hóa.
Ứng thân Phật là sự ứng dụng trí tuệ của Đức Phật, thu đạt từ những cái nhìn có ý nghĩa sâu sắc trong đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần được nâng lên rõ rệt, dựa trên nền tảng căn bản đạo đức và trí tuệ, đ đáp ứng yêu cầu phát triển với xã hội.
Ứng thân Phật là hiện thân thành tựu đạt được của sTỉnh thức hoàn toàn và trí tuệ siêu việt, mà Thái tử Siddhārtha Gautama, một con người, sanh và sống trong nhân gian, đã cố gắng hướng hết tâm trí và khả năng của chính mình, đem ứng dụng vào sự thực hành tu tập trong việc cầu đạo, nhằm giúp cho con người có một cuộc sống an lạc, qua sự tự biết rèn luyện  và sống theo giáo pháp của một Bậc đã hoàn toàn Giác ngộ.
Ứng Thân, hay biến hóa thân, là thân của Đức Phật, chuyển hóa theo quá  trình trãi qua trong cuộc một đời của một con người, nhưng là một con người biết khắc phục mọi phiền não, bằng sự hàm dưỡng tu tập quán sát nội tại trong thân tâm để vượt qua những trở ngại, mang phẩm chất lợi tha toàn diện và một con người đã biết dựng đứng lại những gì bị quăng bỏ, bị quên lãng, trong khả năng trí giác thẩm thấu thật tánh của các pháp nhân sinh vũ trụ, sẳn có ở mỗi người.
Từ bảy bước chân đi, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất và nói sau khi chào đời của Thái tử Siddhārtha Gautamatại vườn Lâm tỳ ni :

Pali                                         Ý Việt

Aggo ham asmi lokassa         Ta là người cao quý nhất thế gian. 
Jetto ham asmi lokassa          Ta là người giỏi nhất thế gian.
Setto ham asmi lokassa         Ta là người kiệt xuất nhất thế gian.
Ayam antimā jāti                 Đây là lần tái sinh cuối cùng.
Natthi dāni punabbhavo       Bây giờ không còn tái sinh!.

Đây là việc nói lên sự Ứng Hiện của bậc đại thánh ở thế gian và đã sanh ra ở thế gian này. Bảy bước chân và mỗi bước có hoa sen đỡ chân cho Thái tử Siddhārtha Gautama lúc vừa đản sanh, là hình ảnh biểu đạt con đường đi đến sự tỉnh thức hoàn toàn, qua bảy quá trình tu tập, được biết sau ngày thành đạo của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni như sau : Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát Thánh đạo.

Mỗi bước chân đi của Đức Phật, là sự làm chuyễn hóa hiện hạnh nguyện : Từ, Bi, Hỷ, Xả, bằng trí tuệ, để đem tình yêu và hạnh phúc đến cho muôn loài.

Aggo ham asmi lokassa            Ta là người cao quý nhất thế gian. 
Jetto ham asmi lokassa           Ta là người giỏi nhất thế gian.
Setto ham asmi lokassa         Ta là người kiệt xuất nhất thế gian.

Đây cũng là những hình ảnh, sau này được người ta diễn đạt trong "Hồi ức hay chánh niệm của Đức Phật", để chỉ hành động của lòng sùng kính, tôn thờ, ngợi khen và suy niệm về Ngài qua những danh xưng dưới đây :
"Itipi so Bhagava. Thật vậy, Ðức Thế Tôn có :
Araham : Ứng Cúng
Samma sambuddho : Chánh Biến Tri.
Vijja carana sampanno : Minh Hạnh Túc.
Sugato : Thiện Thệ.
Lokavidu : Thế Gian Giải.
Anuttaro : Vô Thượng Sĩ.

Purisadammasarathi : Ðiều Ngự Trượng Phu .
Sattha devamanussanam : Thiên Nhân Sư.
Buddho : Phật.
Bhagavati : Thế Tôn."

Trong Phạn ngữ, cũng có ghi những danh xưng để tôn kính Ngài như sau :
Tathāgata : Như Lai, là người đã đến như thế hay người đã đến từ cõi Chân như.
Arhat : Ứng Cung, là người đáng được cúng dường, đáng được tôn kính.
Samyak saṃbuddha : Chính Biến Tri hay Tam miệu tam Phật đà, là người hiểu biết đúng tất cả các pháp.
Vidyā caraṇa saṃpanna : Minh Hạnh Túc, là người có đủ trí huệ và đức hạnh.
Sugata : Thiện Thệ, là người đã đi một cách tốt đẹp.
Loka vid : Thế Gian Giải, là người đã thấu hiểu thế giới.
Anuttara puruṣa : Vô Thượng Sĩ, là Đấng tối cao, không ai vượt qua.
Puruṣa damya sārathi : Điều Ngự Đại Trượng Phu, là người đã điều chế được mình và nhân loại.
Deva manuṣyānāṃ śāstṛ : Thiên Nhân Sư, là Bậc thầy của cõi người và cõi trời.
Bhagavān : Phật Thế Tôn, là Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính.
Mười Danh Hiệu Phật trong Thi Ca Việt Nam được Thầy Minh Đức thi hóa :
 
Như Lai đúng thật không hai
Điểm tâm Ứng cúng Như lai chính mình
Chính tri vạn pháp phân minh
Huệ từ đức hạnh quả tình viên dung
Lời nguyền lai động không trung
Thế gian tỉnh thức khắp cùng đẹp thay
Không còn mê ngộ đúng sai
Giữ mình trong sạch ở ngay dương trần
Người đời ghi tạc thượng nhân
Thế tôn giác ngộ chuyên cần noi theo
 
Ayam antimā jāti                 Đây là lần tái sinh cuối cùng.
Natthi dāni punabbhavo      Bây giờ không còn tái sinh!.
Hai câu này là hình ảnh chân thật hiển nhiên của Đức Phật, trong chu trình : Sanh, Lão, Bịnh, Tử, của một đời người được sinh ra và sống trong vũ trụ này cũng như tất cả vạn vật. Nhưng không phải dùng nó đ chỉ bày cái lý không thay đổi.
Hai câu này là hình ảnh nói lên cái nguyên lý chân thật của tất cả pháp và thể hiện cái tánh trường tồn của nó, mà Đức Phật là một con người toàn hảo, một con người có khả năng vô hạn để chứng minh những giá trị của thể tánh thường hằng, không sanh không diệt của vạn pháp và Ngài cũng chính là sự đan kết giữa hiện tượng và bản thể. Đức Phật là một bậc đã giác ngộ như vậy, như thế đó. Phiền não của lúc ban đầu tự chính nó, cũng là sự giác ngộ ở lúc cuối cùng.

Tất cả mọi sự vật, sự việc... đang vận động xung quanh con người luôn biến đổi, qua những sự cảm nhận thường tình được thấy trong đời sống như : Có hạnh phúc bất tận thì có những bất hạnh đau thương chất ngất, hay ngoài những cái xấu ra, thì còn những cái tốt… Những chuỗi hiện tượng nguyên nhân này xảy ra trong chu trình biến chuyển không ngừng, theo chiều thuận hay nghịch của nó sẽ đưa con người, sự việc đến với nhau cũng vì chữ “Duyên”.
Con người bắt đầu biết tự đặt cho mình những câu hỏi bằng những cụm từ : Ai? Cái gì? Như thế nào? Ở đâu? Khi nào? Tại sao?... Từ đó cũng là sự bắt đầu biết tự nhận thức bản thân hay  tự biết đánh giá lại bản thân của mình. Khả năng này vốn đã sẳn có trong mỗi người và chính mỗi người tự giúp mình hiểu mình hơn, và nhận biết được điểm mạnh, điểm yếu, cũng như phát triển tiềm năng cá nhân của mình, để xử lý những tình huống khó khăn trong cuộc sống.
Một thành tựu cần thiết cho quá trình tu tập để đoạn tận khổ đau, cũng đều tùy thuộc vào bản chất của con đường tu tập. Bản chất này bao gồm những yếu tố như sau :
Trạch pháp (dharmapravicaya), phân tích, biết phân biệt đúng sai.
Tinh tiến (vīrya).
Hỉ (prīti), tâm hoan hỉ.
Khinh an (praśabdhi), tâm thức sảng khoái.
Niệm (smṛti), tỉnh giác.
Định (samādhi), có sự tập trung lắng đọng.
Xả (upekṣā), lòng buông xả, không câu chấp.
Ứng thân Như lai, là cái nhất thể của khách thể và chủ thể trong thế giới nhị nguyên, và biết phải làm sao để thoát khỏi thế giới bằng đỉnh cao của Trí tuệ, cho nên con đường tu luyện để đắc đạo đương nhiên rất khó. Vì nó bắt buộc phải đi ngược dòng thế tục. Tuy nhiên, người tu Phật đã được Đức Phật dạy làm sao để biết chính mình thật sự có mặt và sống an lạc chung với tất cả đại chúng, qua sự đã giác ngộ của Ngài.
Đây cũng chính là lý do tại sao Chân Như cũng còn được gọi là : "Như Lai Tạng (Tathàgatagarbha), Phật tính, Pháp thân". Như Lai là một hiện tại được nhân cách hóa, nhưng bản chất thực sự của nó nằm ở trong thân tâm của một vị Phật và mỗi người đều thể hiện được để trở thành Như Lai như Đức Phật Thích Ca.

Còn tiếp
Kính bút
TS Huệ Dân
Bài này đã đọc 1315 lần
Chưa có bình luận
Viết bình luận
* Tên
* Email (cộng đồng không xem được hộp thư tác giả)
*
* Điền những mã kiểm chứng
* - Tất cả các ô trống phải điền hết